HỆ THỐNG THÔNG GIÓ HÚT KHÓI

Xử lý hệ thống thông gió hút khói của Công ty CP Giấy Sài Gòn MT- tại KCN Điện Nam- Điện Ngọc Thời gian thực hiện: 3/2012

VAN 1 CHIỀU và VAN BƯỚM

Xử lý van 1 chiều và van bướm nhà máy nước

HỆ THỐNG THU HỒI GIẤY VỤN

Tư vấn, khảo sát, thiết kế, chế tạo và lắp đặt các hệ thống thông gió, làm mát nhà xưởng, hút và xử lý bụi.

XỬ LÝ BĂNG TẢI CAO SU BỊ MÒN, HỎNG

Xử lý băng tải cao su bị mòn, hỏng tại Công ty Hữu Hạn Xi măng Luks Tp. Huế-Việt Nam

BÌNH ÁP SUẤT CHỨA AMONIAC

Xử lý bình áp suất chứa Amoniac vafdanf làm mát cho hệ thống lạnh tăng hiệu suất làm mát tại Công ty Pepsico Việt Nam- Điện Thắng- Quảng Nam.

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

Đọc ô nhiễm bằng smartphone .

Các nhà khoa học Mỹ cho hay đã triển khai một đội ngũ cảm biến ô nhiễm di động, cung cấp thông tin thực tế về tình hình chất lượng không khí đến smartphone của cư dân trong vùng.


Smartphone

Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học California ở San Diego (Mỹ) cho hay những cảm biến CitiSense đặc biệt hữu ích cho những người mắc tình trạng kinh niên như suyễn, cần phải tránh nơi ô nhiễm.

Chỉ cần 100 cảm biến là đủ để thu thập thông tin thời tiết tại một khu vực rộng. Ví dụ, hạt San Diego có khoảng 3,1 triệu dân, diện tích trên 10.000 km2, và chỉ cần khoảng 10 trạm di động như vậy.
“Chúng tôi muốn có được nhiều dữ liệu, và dữ liệu chính xác, để có thể cung cấp cho cộng đồng”, website esciencenews.com dẫn lời William Griswold, Giáo sư khoa học máy tính của UC San Diego, trưởng nhóm dự án.

Trong cuộc thử nghiệm, các chuyên gia phân phát cảm biến cho khoảng 30 người mang trong ba lô trong vòng 4 tuần tại hạt San Diego.

Các cảm biến CitiSense có thể phát hiện ozone, nitrogen dioxide và carbon monoxide, những chất ô nhiễm phổ biến nhất thải ra từ xe cộ.

Và smartphone có thể hiển thị những chỉ số đó bằng cách sử dụng thang màu về chất lượng không khí theo qui định của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ, từ xanh lá (tốt) đến tím (nguy hiểm).
Nguồn thanhnien.

Phát hiện hành tinh có thể ở được

Các nhà thiên văn đã phát hiện một ngôi sao giống Mặt trời có một hành tinh có thể hỗ trợ sự sống, theo một nghiên cứu được công bố hôm 19.12.


Hành tinh của sao Tau Ceti

Nằm cách Trái đất 12 năm ánh sáng, sao Tau Ceti có năm hành tinh lớn từ gấp hai đến gấp 6,6 lần hành tinh của con người, theo tờ The Guardian.

Có một trong năm hành tinh nặng khoảng gấp năm lần Trái đất và thuộc “vùng có thể ở được”, tức vùng có khoảng cách nhất định với ngôi sao nơi nhiệt độ không quá nóng hoặc quá lạnh để nước, yếu tố quan trọng với sự sống, có thể tồn tại trên bề mặt hành tinh.

Chu kỳ quay quanh sao Tau Ceti của hành tinh có thể ở được này là 168 ngày.  Theo các nhà nghiên cứu, nếu sự hiện hữu của nó được xác nhận, đây sẽ là hành tinh nhỏ nhất được phát hiện trong vùng có thể ở được của một ngôi sao như Mặt trời.
“Khám phá này phù hợp với quan điểm mới đặt ra của chúng tôi là gần như mọi ngôi sao đều có hành tinh và thiên hà phải có nhiều hành tinh có thể ở được cùng kích cỡ với Trái đất như thế”, đồng tác giả nghiên cứu Steve Vogt của Trường đại học California ở thành phố Santa Cruz (Mỹ), phát biểu.

Các nhà thiên văn vốn không phát hiện được điều gì khi theo dõi các hành tinh xung quanh Tau Ceti trước đây.

Tuy nhiên, trong nghiên cứu mới, các nhà khoa học sử dụng những kỹ thuật phân tích mới để lọc lại dữ liệu từ hơn 6.000 lần quan sát sao Tau Ceti, và đã nhận ra năm tín hiệu yếu ớt từ các tiếng ồn biến dạng đặc trưng cho sự hiện hữu của các hành tinh có khối lượng nhỏ.

Kể từ thập niên 1990, các nhà thiên văn đã phát hiện hơn 800 hành tinh xoay quanh các ngôi sao bên ngoài hệ mặt trời. Kính viễn vọng Kepler, được đưa vào không gian năm 2009, đã tìm kiếm dấu hiệu của các hành tinh giống Trái đất tại hơn 100.000 ngôi sao.

Cho đến nay, Kepler đã xác nhận được hơn 100 hành tinh thuộc dạng này và các hành tinh của những ngôi sao nằm gần Trái đất là hấp dẫn hơn cả với các nhà thiên văn.
Nguồn thanhnien.com.vn

Mỗi ngày phát sinh 47 tấn chất thải rắn y tế.

Phó Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) Trần Đắc Phu cho biết hiện nay, cả nước có 13.640 cơ sở y tế các loại, với tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế vào khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có khoảng 47 tấn là chất thải rắn y tế nguy hại.

Theo ước tính của các chuyên gia môi trường, đến năm 2015, lượng chất thải rắn y tế thải ra môi trường là 600 tấn/ngày. Lượng chất thải lỏng phát sinh tại các cơ sở y tế có giường bệnh hiện nay khoảng trên 125.000m3/ngày đêm.
Chất thải y tế

Trong khi tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân loại chất thải rắn y tế chiếm 95,6%, chỉ có 50% các bệnh viện phân loại, thu gom chất thải rắn y tế đạt yêu cầu theo Quy chế quản lý chất thải y tế.

Hiện chất thải y tế ở Việt Nam được xử lý bằng hai phương án là đốt và chôn lấp trong đó vẫn còn 30,8% bệnh viện xử lý chất thải y tế bằng lò đốt 1 buồng, thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên của bệnh viện. Tỷ lệ bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước thải y tế chiếm 45,6%.

Các chuyên gia môi trường cho rằng nguyên nhân chính gây trở ngại cho công tác quản lý môi trường ở các cơ sở y tế là nhận thức của nhân viên y tế và cộng đồng về quản lý chất thải y tế còn hạn chế; kiến thức về quản lý chất thải còn yếu; định hướng công nghệ chưa rõ ràng; chưa có sự đầu tư đúng mức cũng như các cơ chế về tài chính chưa hợp lý để tạo điều kiện làm tốt công việc xử lý chất thải y tế và công tác kiểm tra, giám sát chưa được chú trọng.

Để khắc phục các tồn tại nêu trên, thời gian tới ngành y tế cần tập trung hoàn thiện tổ chức, cơ chế, chính sách và văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất thải y tế; ưu tiên tập trung nguồn lực xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Bên cạnh đó, cần tăng cường năng lực quan trắc, đánh giá tác động môi trường, đánh giá tác động sức khỏe; tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và nhân viên y tế về chuyên môn, nghiệp vụ trong công tác quản lý chất thải y tế, đồng thời đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ các cấp chính quyền, ban, ngành, các cơ sở y tế và người dân trong việc xử lý chất thải y tế./.
Nguồn TTXVN

Môi trường đất ngày càng suy thoái.

Mặc dù công tác bảo vệ môi trường đã được lồng ghép trong các văn bản chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, song việc triển khai thực hiện trên thực tế còn hạn chế nên môi trường ở Việt Nam vẫn chưa được cải thiện đáng kể, nhất là môi trường đất đang có xu hướng bị ô nhiễm và suy thoái ngày càng nghiêm trọng.
Đất nông nghiệp

Hiện nay ở khu vực nông thôn, môi trường đất chủ yếu bị ô nhiễm do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thiếu bền vững. Hàng năm ước tính tổng lượng phân bón vô cơ sử dụng trong canh tác nông nghiệp vào khoảng 2,5-3 triệu tấn, trong đó có đến 50-70% không được cây trồng sử dụng thải ra môi trường.

Còn ở các vùng quanh đô thị, khu công nghiệp và làng nghề, môi trường đất cũng bị ô nhiễm do các chất thải từ hoạt động sản xuất, sinh hoạt. Hiện chỉ có 60% khu công nghiệp có có hệ thống xử lý nước thải. Hầu hết nước thải sinh hoạt đô thị đều không được xử lý mà xả thẳng ra môi trường nên hàm lượng kim loại nặng trong đất ở một số làng nghề đã xấp xỉ hoặc vượt tiêu chuẩn cho phép.

Đặc biệt, môi trường đất ở một số nơi đang bị ô nhiễm do chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh. Cụ thể như tại sân bay Đà Nẵng, Biên Hòa (Đồng Nai) và sân bay Phù Cát (Bình Định) vẫn còn tồn dư hàng trăm nghìn m3 đất và bùn bị nhiễm chất độc da cam với hàm lượng dioxin gấp hàng trăm, thậm chí hàng nghìn lần so với nồng độ cho phép, tiếp tục tác động xấu đến sức khỏe con người và môi trường tại các khu vực lân cận. Ngoài ra còn có 335 điểm tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật trên cả nước đã được xác định, nhưng chưa giải quyết dứt điểm.

Bên cạnh đó, đất canh tác nông nghiệp nhiều nơi đang bị suy thoái do sạt lở, rửa trôi, xói mòn, hoang mạc hóa, mặn hóa và phèn hóa.

Riêng các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên với lượng đất bị xói mòn hàng năm lên tới 33,8-150,5 tấn/ha. Đồng thời còn có khoảng 9,3 triệu ha đất, chiếm 28% diện tích tự nhiên có liên quan đến hoang mạc hóa, trong đó 2 triệu ha đang sử dụng bị thoái hóa nặng và 2 triệu ha khác đang có nguy cơ thoái hóa cao. Đó là chưa kể dải hoang mạc cát ven biển từ Quảng Bình đến Bình Thuận lên đến 419.000 ha. Cộng thêm hiện tượng mặn hóa, phèn hóa, xâm thực mặn ở các cửa sông và vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang trở lên gay gắt trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của hiện tượng biến đổi khí hậu gây nên./.

Nguồn TTXVN

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

"Tạm quên" máy tính, con người sáng tạo hơn.

Theo nghiên cứu của Đại học Utah và Đại học Kansas (Mỹ), khả năng sáng tạo của con người tăng lên đáng kể khi họ rời bỏ các thiết bị điện tử thường dùng.


Du lịch

Khảo sát được công bố trên tạp chí PLOSONE, đã tiến hành nghiên cứu 30 đàn ông và 26 phụ nữ, tuổi đời bình quân là 28. Những người này tham gia chuyến dã ngoại kéo dài từ 4-6 ngày tại những vùng hoang vắng và không mang theo các thiết bị công nghệ và truyền thông quen thuộc.
Trong số này có 24 người làm trắc nghiệm về khả năng sáng tạo lúc bắt đầu đi và 32 người làm trắc nghiệm sau 4 ngày dã ngoại.
Tính bình quân sau những ngày đi dã ngoại, điểm số trắc nghiệm họ đạt được là 6,08/10. Trong khi đó, những người chưa bắt đầu đi chỉ đạt điểm bình quân là 4,14 điểm.

Đồng tác giả nghiên cứu nói trên, giáo sư tâm lý học David Strayer, tại Đại học Utah khẳng định: “Khảo sát cho thấy sự tương tác với thiên nhiên đem lại những lợi ích thực sự, có thể định lượng được đối với việc giải quyết vấn đề sáng tạo. Các tác giả của những thế kỷ trước đã lý giải tại sao việc tiếp xúc với thiên nhiên lại quan trọng và nhiều người thích đi nghỉ nhưng chúng ta chưa biết rõ lợi ích của nó dưới góc độ khoa học”.

Nhóm nghiên cứu cũng dẫn lại những khảo sát trước đây cho thấy trẻ nhỏ hiện nay chỉ dành từ 15-25 phút/ngày cho hoạt động ngoài trời, ít hơn rất nhiều so với 30 năm trước. Trong khi đó, thanh thiếu niên từ 8-18 tuổi hiện dành hơn 7,5 giờ/ngày cho các thiết bị truyền thông như TV, điện thoại di động, máy tính…

Các nhà khoa học cho rằng những thiết bị công nghệ và truyền thông hiện đại chi phối sự chú ý của con người trong khi sự tiếp cận với thiên nhiên giúp phục hồi sự chú ý đó, giúp con người dễ tập trung vào sự sáng tạo.
Nguồn nld.com.vn

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012

Ecuador nâng cảnh báo núi lửa hoạt động.

Chính phủ Ecuador ngày 16/12 đã nâng mức báo động từ “vàng” lên “da cam” tại các vùng lân cận núi lửa Tungurahua sau khi hoạt động phun trào của núi lửa tăng trong những ngày gần đây.


Núi lửa Tungurahua

Trong một thông cáo, Cơ quan quản lý rủi ro thiên tai quốc gia Ecuador (SNGR) cho biết khu vực được đặt trong tình trạng báo động thuộc các tỉnh Tungurahua và Chimborazo.

Quyết định được đưa ra sau khi từ ngày 12/12, núi lửa tăng phun khí và xuất hiện nhiều vụ nổ. Trong ngày 16/12, đã xảy ra 2 vụ nổ lớn tạo ra một cột khói bụi cao hơn 7 km có thể quan sát thấy từ xa. Tro bụi đã bao phủ một số khu vực dân cư.

Theo Viện địa vật lý Ecuador, trong 24 giờ qua cơ quan này đã thống kê được 103 vụ dư chấn nhỏ liên quan tới chuyển động của dung nham trong núi lửa.

 Nằm trên độ cao trên 5.000m và cách thủ đô Quito 135 km về phía Nam, núi lửa Tungurahua “thức giấc” năm 1999 và từ đó đến nay các hoạt động phun trào diễn ra xen kẽ với các khoảng thời gian núi lửa tạm “yên nghỉ.”

Tungurahua hoạt động mạnh nhất vào tháng 7/2006. Khi đó nó tạo ra cột khói bụi cao tới 15km, nhìn thấy rõ trong các bức ảnh chụp từ vệ tinh.

Lần phun trào đó đã khiến sáu người thiệt mạng do bị nham thạch cuốn trôi, và buộc hàng nghìn người phải sơ tán, đồng thời gây thiệt hại nặng nề trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn Vietnam+

Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012

Khai thác khoáng sản-tác động tiêu cực đến môi trường

Hoạt động khai thác khoáng sản ở nước ta đã và đang gây nhiều tác động xấu đến môi trường xung quanh. 
Khai thác khoáng sản

Biểu hiện rõ nét nhất là việc sử dụng thiếu hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên; tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải; làm ảnh hưởng đến sử dụng nước, ô nhiễm nước, tiềm ẩn nguy cơ về dòng thải axit mỏ... Những hoạt động này đang phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái được hình thành từ hàng chục triệu năm, gây ô nhiễm nặng nề đối với môi trường, trở thành vấn đề cấp bách mang tính chính trị và xã hội của cộng đồng một cách sâu sắc.

Nhận định về những tác động đến môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản hiện nay, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Bùi Cách Tuyến cho rằng: Đáng lo ngại nhất là các hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản quy mô nhỏ đang diễn ra khá phổ biến ở nước ta. Do vốn đầu tư của các doanh nghiệp này hạn chế, khai thác bằng phương pháp thủ công, bán cơ giới, công nghệ lạc hậu và nhất là chạy theo lợi nhuận, ý thức chấp hành luật pháp chưa cao nên các chủ cơ sở ít quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, an toàn lao động, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, để lại nhiều hậu quả xấu đến môi trường. Đa số các mỏ đang hoạt động hiện nay sản lượng khai thác thấp hơn nhiều so với sản lượng được cấp phép, hoạt động không tuân thủ dự án, thiết kế và báo cáo đánh giá tác động môi trường, hoặc bản cam kết được duyệt.

Đơn cử như việc khai thác than, từ năm 2000 đến nay sản lượng ngành than đã không ngừng tăng. Song vấn đề bức xúc nhất đối với các mỏ khai thác than về góc độ bảo vệ môi trường là đất đá thải. Để sản xuất 1 tấn than, cần bóc đi từ 8 – 10 m3 đất phủ, thải từ 1 - 3 m3nước thải mỏ. Chỉ tính riêng năm 2006, các mỏ than của Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt nam đã thải vào môi trường tới 182,6 triệu m3 đất đá, khoảng 70 triệu m3 nước thải mỏ, dẫn đến một số vùng của tỉnh Quảng Ninh bị ô nhiễm đến mức báo động như Mạo Khê, Uông Bí, Cẩm Phả...

Đất đá thải loại trong khai thác khoáng sản cũng là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến tác động cộng hưởng về phát thải bụi từ các mỏ, gây suy giảm môi trường không khí do nhiễm bụi ở các khu dân cư ở trong vùng khai thác. Trên các mỏ than thường có mặt với hàm lượng cao các nguyên tố Sc, Ti, Mn...Các khoáng vật sulphua có trong than còn chứa Zn, Cd, HG...làm cho bụi mỏ trở nên độc hại với sức khỏe con người.

Trong khai thác mỏ kim loại, tác động rõ nét nhất là tàn phá mặt đất, ảnh hưởng lớn đến rừng và thảm thực vật. Việc khai thác vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho sản xuất phân bón và hóa chất như đá vôi làm ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước nghiêm trọng. Do quy trình khai thác lạc hậu, không có hệ thống thu bụi nên hàm lượng bụi tại những nơi này thường lớn gấp 9 lần so với tiêu chuẩn cho phép.

Một trong những loại vật liệu xây dựng được khai thác từ các lòng sông là cát. Hoạt động này diễn ra trên toàn bộ hệ thống sông suối ở nước ta. Tại miền Nam có tới 120 khu vực được UBND các tỉnh cấp phép khai thác cát xây dựng, khối lượng cát đã khai thác từ những con sông lớn như Đồng Nai - Nhà Bè, Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông, sông Tiền và sông Hậu... kể từ năm 1990 đến nay lên tới 100 triệu m3. Hậu quả môi trường mà các tỉnh này đang phải gánh chịu là làm đục nước sông, cản trở thuyền bè qua lại và nguy cơ gia tăng tai nạn giao thông đường thủy. Đặc biệt là gây sạt lở nghiêm trọng các bờ sông, nhất là ở sông Đồng Nai và sông Sài Gòn đã và đang sạt lở nặng nề nhất.
Nguồn monre

Khắc phục ô nhiễm nước bằng hạt nano.

Các hạt nano bằng sắt được bọc trong một lớp phủ nhựa chống gỉ sẽ có thể làm sạch các hóa chất gây ô nhiễm dưới mặt đất.
Khắc phục ô nhiễm nước

Theo TS Denis O’Carrol, ô nhiễm đất là một vấn đề của lịch sử. Từ những năm 1970, con người đã sai lầm khi nghĩ rằng chôn chất độc xuống đất, nó sẽ tự biến mất, lớp dưới bề mặt đất sẽ hoạt động chức năng lọc tự nhiên. Thực tế là chất thải này có khả năng làm ô nhiễm môi trường, ô nhiễm tài nguyên nước mặt và còn tồn tại hàng thập kỷ.

O’Carroll thuộc phòng thí nghiệm nước Đại học New South Wales, đã sử dụng công nghệ nano để xử lý các chất ô nhiễm. Ông đã tiến hành thử nghiệm công nghệ làm sạch tầng nước mặt mới, sử dụng các hạt kim loại kích thước nano, nhỏ hơn sợi tóc người từ 500 tới 5000 lần.

Hạt sắt được bơm thẳng vào đất bị ô nhiễm, nơi chúng sẽ chảy tới các chất ô nhiễm và bắt đầu phản ứng oxy hóa khử. Trong phản ứng này điện tử được di chuyển giữa hạt nano và chất ô nhiễm. Phản ứng sẽ thay đổi trạng thái ôxy hóa của chất gây ô nhiễm và làm giảm bớt tính độc tổng thể, nâng dần tới mức độ an toàn hơn.

Kích thước nhỏ của các hạt nano cho phép chúng có thể di chuyển qua các kênh hiển vi trong đất và đá để tiến tới và phá hủy các chất gây ô nhiễm, điều mà các hạt lớn hơn không thể làm được.

Ngoài ra, các hạt sắt kích thước nano đặc biệt an toàn với môi trường vì chúng không linh hoạt và phân hủy một cách nhanh chóng. Thực tế, điều này cũng có phần bất lợi vì nó hạn chế khả năng tìm kiếm và phá hủy độc tố của các hạt nano.

Để tối ưu hóa các hạt nano, O’Carroll đang thử nghiệm nhiều dạng sắt khác nhau, và bao bọc các hạt trong lớp nhựa chống gỉ, giúp làm chậm quá trình phân hủy và tăng tính linh động của sắt, mà không ảnh hưởng xấu tới môi trường.

Công nghệ mới đã được thử nghiệm tại hai vùng bị ô nhiễm ở Ontario và quan sát thấy kết quả giảm đáng kể các chất gây ô nhiễm tại cả hai vùng. Nghiên cứu đã được đăng trên tạp chí The Nature of Things.
Nguồn Vista

Trẻ có IQ thấp do ô nhiễm không khí.

Các nhà nghiên cứu Mỹ lần đầu tiên đã tìm thấy sự liên quan giữa tình trạng ô nhiễm không khí trước khi sinh với chỉ số IQ thấp ở trẻ nhỏ.
Ô nhiễm không khí

Kết quả trên có được sau khi nghiên cứu 249 trẻ em sống tại thành phố New York là con của những phụ nữ phải mang máy trợ thở trong suốt những tháng cuối thai kỳ. Những phụ nữ này sống ở những vùng có thu nhập thấp nhất ở bắc Manhattan và Nam Bronx. Họ thường xuyên phải tiếp xúc với tình trạng ô nhiễm không khí do lượng lớn khí thải từ ô tô, xe buýt, xe tải xả ra.

Ở tuổi lên 5, tuổi trước khi đi học, trẻ sẽ được kiểm tra chỉ số IQ. Những đứa trẻ sống trong môi trường ô nhiễm từ lúc còn trong bụng mẹ có chỉ số IQ thấp hơn so với những trẻ khác 4-5 điểm.

“Đó là một sự khác biệt lớn và nó có thể ảnh hưởng tới thành tích học tập ở trường của trẻ”, Frederica Perera, trưởng nhóm nghiên cứu và là Giám đốc của TT Columbia về Sức khỏe môi trường đối với trẻ em, cho biết.
Trong giai đoạn đầu của nghiên cứu này, bà Perera đã tìm thấy mối liên hệ giữa sự ô nhiễm không khí từ trong bụng mẹ với những biến đổi gen ở thai nhi có thể làm tăng nguy cơ ung thư, vòng đầu của trẻ khi sinh ra nhỏ hơn và cũng nhẹ cân hơn lúc chào đời. Nhóm nghiên cứu của bà Perera cũng tìm thấy sự liên quan giữa sự phát triển chậm của trẻ 3 tuổi với bệnh hen suyễn.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu các chất gây ô nhiễm mà có thể thâm nhập vào thai nhi qua nhau thai và nhận thấy đó là chất hydrocacbon thơm nhiều vòng. Đây là hợp chất có rất nhiều trong khí thải của các loại xe cộ và từ các ống khói nhà máy. Khói thuốc lá cũng là một nguyên nhân nhưng các bà mẹ tham gia nghiên cứu hoàn toàn không hút thuốc lá.

Trong số 140 trẻ tham gia nghiên cứu, 56% thuộc nhóm nguy cơ cao (mẹ sống ở gần những đường phố đông đúc, bến xe buýt và các loại nguồn gây ô nhiễm không khí thành phố khác).

Các nhà nghiên cứu cũng xem xét các yếu tố có thể ảnh hưởng tới IQ như hút thuốc thụ động, sống trong môi trường ô nhiễm trước khi sinh và nhận thấy sự ảnh hưởng mạnh mẽ của giai đoạn thai nghén. Và đây chính là tiền đề để bà Perera nghiên cứu sâu hơn về chỉ số IQ và ô nhiễm khi mang thai.

TS. Robert Geller, chuyên gia nhi và chất độc trường ĐH Emory, nhấn mạnh: “Nghiên cứu này hoàn toàn không khẳng định rằng ô nhiễm không khí trong suốt thời thơ ấu sẽ quyết định chỉ số IQ của trẻ bởi vì vẫn có những trẻ đạt thành tích cao trong học tập dù mẹ của em đã từng sống trong môi trường ô nhiễm lúc có thai”.

Theo chuyên gia sức khỏe môi trường trường Sức khỏe cộng đồng John Hopkin Patrick Breysse thì cần phải có thêm những nghiên cứu khác để khẳng định kết quả trên.

Nguồn TTXVN

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

Đẩy mạnh tuyên truyền phòng chống thiên tai.

Với hơn 80% dân số có nguy cơ chịu ảnh hưởng trực tiếp của thiên tai, bão lũ, công tác tuyên truyền là yếu tố rất quan trọng để góp phần giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai có nguồn gốc khí tượng thủy văn gây ra tại Việt Nam.
Lũ lụt

​Cũng theo đánh giá của Ban Chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương tại Hội thảo “Tăng cường phối hợp tuyên truyền bản tin dự báo bão, lũ trên các phương tiện thông tin đại chúng,” điều này đòi hỏi nhiều hơn những sản phẩm của các cơ quan truyền thông báo chí.

Trong hội thảo diễn ra ngày 12/12 tại Hà Nội, này, ông Bùi Văn Đức, Tổng Giám đốc Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia nhận định những năm gần đây, cùng với sự biến đổi khí hậu toàn cầu, tình hình khí tượng thủy văn ở Việt Nam ngày càng biến động phức tạp hơn. Thiên tai nghiêm trọng với những biểu hiện bất thường xảy ra ngày càng nhiều hơn, đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của người dân cũng như làm suy thoái môi trường.

Tại miền Trung, lũ lụt xảy ra với tính khốc liệt ngày càng tăng. Miền núi và đồng bằng Bắc Bộ cũng phải hứng chịu những đợt mưa, lụt có tính lịch sử. Hạn hán hầu như xảy ra thường xuyên và trên quy mô ngày càng rộng lớn. Ở miền Nam, ngoài chu kỳ ngập lụt hàng năm của sông Cửu Long, hạn hán, triều cường, xâm ngập mặn cũng đang gia tăng.

Bên cạnh đó, mặc dù công tác dự báo khí tượng thủy văn đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin ngày càng cao của xã hội. Vấn đề dự báo mưa, bão, lũ quét nói riêng và dự báo các hiện tượng khí tượng thủy văn nguy hiểm nói chung vẫn là bài toán rất khó, luôn thách thức các nhà khí tượng thủy văn.

"Để góp phần giảm nhẹ thiên tai có nguồn gốc khí tượng thủy văn gây ra, thì công tác cảnh báo kịp thời, dự báo tin cậy và thông tin chính xác về các hiện tượng khí tượng thủy văn có giá trị rất quan trọng trong công tác phòng, tránh khắc phục hậu quả thiên tai, ổn định cuộc sống và khôi phục sản xuất cho nhân dân. Mặt khác, cần đẩy mạnh tuyên truyền bằng các 'sản phẩm' của báo chí, để nâng cao hiểu biết của cộng đồng về các hiện tượng khí tượng thủy văn nguy hiểm và những hiểm họa nhằm kịp thời ứng phó," ông Đức nói
Nguồn Vietnam+

Đà Nẵng: Cấm nuôi cá trên sông, dân hoang mang

Cả tháng nay, hàng trăm nông dân nuôi cá lồng trên sông Cẩm Lệ (quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng) đang “đứng ngồi không yên” vì lệnh cấm nuôi cá mà UBND thành phố ban hành.


Nuôi cá.

Đường cùng ra ngã 3 sông

Từ năm 1997 đến năm 2005, hàng chục hộ dân của phường Hòa Cường Nam phải nhường đất ở và đất sản xuất của mình để cho UBNDTP. Đà Nẵng thực hiện các dự án phát triển thành phố. Theo đó, hàng chục ngư dân đi biển với tàu công suất 30CV cũng bị thành phố cấm ra khơi. Những hộ dân này không còn đất sản xuất và không có phương tiện để sinh sống làm ăn.

Hầu hết người dân không thể chuyển đổi được ngành nghề gì sau khi giải tỏa, tái định cư vì đã luống tuổi và trình độ văn hóa thấp. Vì vậy năm 2006 phòng Kinh tế quận Hải Châu và Trung tâm Khuyến ngư - Nông lâm TP. Đà Nẵng nghiên cứu và đưa vào triển khai Dự án nuôi cá diêu hồng tại ngã 3 sông Cẩm Lệ- Cổ Cò nhằm giải quyết việc làm cho những hộ dân này, ông Huỳnh Dũng - Phó Chủ tịch Hội ND quận Hải Châu cho biết.

Ông Đặng Văn Châu (64 tuổi, trú phường Hòa Cường Nam) cho biết: Năm 2006 cơn bão lớn đã tàn phá Đà Nẵng, tôi cùng 80 hộ ngư dân khác bị bão đánh chìm tàu thuyền, không còn phương tiện sản xuất. May nhờ mô hình nuôi cá trên sông Cẩm Lệ đã cứu sống 8 miệng ăn của gia đình tôi và giúp gia đình thoát nghèo. Tôi nuôi cá lồng có lãi từ 90-150 triệu đồng/tháng. Không chỉ vậy, mô hình này đã giải quyết được việc làm cho 12 lao động là anh em gia đình tôi, với thu nhập ổn định từ 2,5-3,5 triệu đồng/người/tháng.

“Trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, khó có thể doanh nghiệp hay mô hình nào giải quyết được việc làm và đem lại cho người dân chúng tôi thu nhập khá như thế” - nông dân Đặng Nữ (phường Hòa Cường Nam) nói. Theo ông Ngô Văn Hưng - Chủ tịch Hội ND phường Hòa Cường Nam, hiện nay trên sông Cẩm Lệ có 37 hộ nuôi cá diêu hồng, sử dụng thường xuyên 300 lao động địa phương.

Chủ những bè nuôi vì không còn đất sản xuất và cũng không thể chuyển đổi được ngành nghề gì phù hợp, hết cách nên họ ra đây nuôi cá lồng để nuôi sống gia đình. “Đây là hướng đi đúng, những nông dân mất đất mà không còn phương tiện sản xuất của địa phường này rất phấn khởi” - ông Huỳnh Dũng cũng khẳng định.

“Chúng tôi làm gì để sống?”

Lợi ích từ nuôi cá lồng bè trên sông Cẩm Lệ ai ai cũng đã thấy trong gần 6 năm nay. Mỗi bè 200m2, 6 lồng nuôi, mỗi năm lãi ròng từ 90-150 triệu đồng. Cũng vì vậy mà từ 1 bè năm 2006 nuôi thử nghiệm, đến nay đã có 37 lồng bè...

Vậy mà ngày 7.11.2012 UBND TP. Đà Nẵng ra Công văn số 9339/UBND-KTN thông báo không đồng ý cho những hộ này nuôi cá và gia hạn đến 31.10.2013 phải đóng cửa các lồng bè này. Lý do mà thành phố nêu ra là sợ gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt (Nhà máy Nước Cầu Đỏ đang khai thác nước mặt sông Cẩm Lệ).

Tuy nhiên, theo ông Ngô Văn Hưng, thực tế đã rất nhiều lần Sở TNMT, Sở NNPTNT Đà Nẵng kiểm nghiệm mẫu nước sông Cẩm Lệ, mẫu thức ăn nuôi cá và kết luận hoàn toàn không bị ảnh hưởng gì đến nguồn nước sản xuất phục vụ sinh hoạt.

Ông Nguyễn Đình Hiệp - chủ 1 bè nuôi cá điêu hồng và nguyên là Chủ tịch Hội Nông dân phường Hòa Cường Nam cho rằng: Không có hoạt động kinh tế nào của nông dân cho hiệu quả kinh tế bằng nuôi cá lồng. Lãi ròng 100 triệu/bè/năm là chuyện thường. Bè nuôi đặt ở khu vực ngã ba sông, nước chảy không hề gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến giao thông đường thuỷ. Đáng tiếc hoạt động này đang đứng trước nguy cơ bị dẹp bỏ.

Theo ông Hiệp, trong cuộc tiếp xúc cử tri tháng 11.2012, các hộ nuôi cá trên sông đã nêu ý kiến với ông Nguyễn Bá Thanh - Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND TP. Đà Nẵng. Ông Thanh đã nói sẽ cho các hộ dân tiếp tục nuôi cá lồng trên sông, với điều kiện là không làm ảnh hưởng môi trường và không gia tăng số lồng bè.

Nhưng nay có Công văn 9339 của thành phố, các hộ dân không biết nghề sinh sống của mình có được tồn tại. Một số hộ nuôi bày tỏ: Nếu thành phố cấm thì chúng tôi chấp hành, nhưng chúng tôi sẽ “chết”, bởi vì mỗi bè phải đầu tư gần nửa tỷ đồng để làm lồng, mua con giống thức ăn… mà phần lớn phải đi vay trả lãi. Cấm thì các hộ không biết chúng tôi biết làm gì để sống...

Ông Lê Công Hồ- Phó Giám đốc Sở NNPTNT TP. Đà Nẵng cho biết: Chúng tôi đã vài lần cử cán bộ phối hợp cùng Sở TNMT xuống kiểm tra thức ăn và mẫu nước tại các lồng bè nuôi cá điêu hồng trên sông Cẩm Lệ. Kết quả là thức ăn và mẫu nước vẫn đạt chuẩn an toàn. Tuy nhiên UBND thành phố quyết định cấm nuôi vì lý do quy hoạch của thành phố trong tương lai. Thành phố đã ra quyết định, đơn vị chúng tôi phải chấp hành và không có ý kiến gì nữa. Từ nay đến tháng 10.2013, chúng tôi sẽ phối hợp với các cơ quan ban ngành khác đề xuất thành phố hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề cho những hộ này.

"Chúng tôi đã nhường đất sản xuất cho thành phố xây dựng, chỉnh trang đô thị, giờ nuôi cá trên sông cũng cấm thì chúng tôi sống sao đây?”.- Nông dân Đặng Nữ tâm sự.
Nguồn tinmoitruong

Ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo vệ môi trường

Với Đề án phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đến năm 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, có 8 nhóm nhiệm vụ sẽ được ưu tiên thực hiện.

Thứ nhất là nhóm nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách và giải pháp nhằm thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Nhóm nhiệm vụ thứ hai là nâng cao năng lực cán bộ về công nghệ sinh học phục vụ lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Nhóm nhiệm vụ thứ ba là tăng cường trang thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Thứ tư là phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong quan trắc, đánh giá chất lượng môi trường.
Thứ năm là phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong xử lý ô nhiễm, khắc phục sự cố môi trường, cải tạo và phục hồi các hệ sinh thái.
Thứ sáu là nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học để tạo ra các công nghệ, sản phẩm thân thiện với môi trường, sản xuất nhiên liệu sinh học.
Thứ bảy là nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học để lưu giữ, bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học.
Thứ tám là nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện các phương pháp đánh giá nhằm kiểm soát, quản lý hiệu quả công nghệ và sản phẩm công nghệ sinh học trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Rơm rạ

Một trong những mục tiêu cụ thể là phát triển và ứng dụng từ 5-10 loại chế phẩm sinh học để xử lý chất thải và được đăng ký lưu hành theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Đến năm 2020, bảo đảm kiểm soát và đánh giá được chất lượng, hiệu quả, độ an toàn của công nghệ sản phẩm công nghệ sinh học ứng dụng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam. Đào tạo được 300-400 kỹ thuật viên trong nước và tham gia đào tạo được 20-30 thạc sỹ và 10-15 tiến sỹ công nghệ sinh học môi trường trong khuôn khổ các đề tài, dự án, nhiệm vụ của Đề án.

Các nhiệm vụ thực hiện Đề án bao gồm nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong phòng ngừa và xử lý ô nhiễm môi trường, ưu tiên đối với xử lý chất thải y tế; chất thải công nghiệp; chất thải nguy hại; chất thải đặc thù trong hoạt động an ninh, quốc phòng; nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong cải tiến quy trình công nghệ theo hướng thân thiện môi trường và sản xuất sạch hơn.Trong đó, có ưu tiên phát triển và ứng dụng các tổ hợp các chất có hoạt tính sinh học cao và vi sinh vật để tạo ra các sản  phẩm thân thiện môi trường hoặc thay thế các hóa chất nguy hại trong quá trình sản xuất của một số ngành kinh tế quan trọng.
Nguồn thiennhien.net

Ứng dụng công nghệ cao vào khai thác-chế biến tài nguyên.

Ngày 10/12, tại Hà Nội  diễn ra Lễ ký thỏa thuận hợp tác toàn diện về nghiên cứu ứng dụng công nghệ chế biến kim loại màu giữa Viện Khoa học Vật liệu (Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam) và Công ty cổ phần Khoáng sản Tây Bắc .
Lễ ký kết

Tham dự buổi lễ, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Bắc hoan nghênh Viện Khoa học Vật liệu và Công ty cổ phần khoáng sản Tây Bắc (Sơn La) ký kết thỏa thuận hợp tác nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất ngay sau khi có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (Khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thỏa thuận hợp tác giữa hai đơn vị sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường, mang lại giá trị gia tăng và thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ.

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng lưu ý, trong quá trình hợp tác, hai đơn vị cần nghiêm túc và trách nhiệm, lấy hiệu quả kinh tế- xã hội, bảo vệ môi trường làm trọng tâm.

Phó Thủ tướng nhấn mạnh, tỉnh Sơn La nói riêng và Tây Bắc nói chung có nhiều loại khoáng sản nhưng hoạt động khai thác vẫn trong tình trạng nhỏ lẻ, manh mún, vì vậy cần áp dụng khoa học công nghệ để khai thác, chế biến có hiệu quả, góp phần tích cực phát triển kinh tế – xã hội.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương và các tỉnh Tây Bắc làm tốt công tác quy hoạch vùng nhiên liệu, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư vào chế biến, tạo việc làm, góp phần nâng cao đời sống nhân dân và phát triển kinh tế – xã hội địa phương.

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lưu ý, không được để xảy ra tình trạng doanh nghiệp sau khi đầu tư lớn cho chế biến nhưng hoạt động không hiệu quả do không có nguyên liệu sản xuất. Do vậy, cần xóa bỏ tình trạng manh mún, nhỏ lẻ trong khai thác và chế biến khoáng sản, tạo điều kiện thuận lợi cho các hình thức quy mô lớn, có hàm lượng khoa học công nghệ cao…

Đồng thời, Bộ Khoa học và Công nghệ, dựa trên chủ trương và định hướng lớn của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (Khóa XI), nghiên cứu và đề xuất chính sách cụ thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng khoa học công nghệ ở khu vực Tây Bắc.

Theo nội dung thỏa thuận hợp tác, Viện Khoa học Vật liệu và Công ty cổ phần Khoáng sản Tây Bắc sẽ đầu tư nghiên cứu quy trình công nghệ chế biến sâu kim loại màu từ nguồn quặng khai thác tại các điểm mỏ trong và ngoài tỉnh Sơn La; nghiên cứu, thiết kế, cải tạo công nghệ chế nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất chế biến, giảm giá thành sản phẩm.
Nguồn Chinhphu.vn

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

Công bố Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia


Chiều 12/12, tại Hà Nội, Bộ TN&MT đã tổ chức Lễ Công bố Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Thứ trưởng Bộ TN&MT Bùi Cách Tuyến, Viện trưởng Viện CLCS TN&MT Nguyễn Văn Tài, đại diện Quỹ Hanns Seidel Foundation Ludwig Graf von Westarp chủ trì buổi lễ.

Bộ TN & MT

Thứ trưởng Bùi Cách Tuyến cho biết, Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 do Bộ TN&MT chủ trì xây dựng và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (5/9/2012). Mục tiêu của Chiến lược là đến năm 2020 phải kiểm soát, hạn chế về cơ bản và đến năm 2030 ngăn chặn và đẩy lùi xu hướng gia tăng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học, cải thiện chất lượng môi trường sống và nâng cao năng lực chủ động ứng phó với BĐKH.

Theo đó, Chiến lược đã được xây dựng dựa trên các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, kế thừa, phát huy các kết quả đã đạt được trong giai đoạn 2001 – 2010, bổ sung thêm những định hướng nhiệm vụ, giải pháp mới để thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển nền kinh tế xanh, ứng phó với BĐKH.

Viện trưởng Nguyễn Văn Tài cho biết, Chiến lược đã đưa ra 4 định hướng lớn cho công tác BVMT gồm: Phòng ngừa và kiểm soát các nguồn ô nhiễm; cải tạo và phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái, đẩy mạnh cung cấp nước sạch và dịch vụ vệ sinh môi trường; khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; xây dựng năng lực ứng phó với BĐKH, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Chiến lược sẽ là văn bản định hướng tổng thể và toàn diện về BVMT để các ngành, các cấp xây dựng và thực hiện kế hoạch 5 năm và hàng năm về BVMT, góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Các định hướng đều tập trung vào các mục tiêu cụ thể: Không để phát sinh cơ sở mới, giảm các nguồn hiện đang gây ô nhiễm môi trường; cải tạo, phục hồi hồ, ao, kênh, mương, đoạn sông đã bị ô nhiễm, suy thoái; cải thiện chất lượng môi trường không khí trong các khu đô thị, khu dân cư; sử dụng tài nguyên đất hiệu quả và bền vững; nâng tỷ lệ che phủ của rừng và nâng cao chất lượng rừng; kiềm chế tốc độ, suy giảm số loài và số cá thể các loài hoang dã, suy thoái các nguồn gen quý, hiếm. Đồng thời, nâng cao nhận thức, hiểu biết, kiến thức về biến đổi khí hậu, thích nghi, sống chung với biến đổi khí hậu trong nhân dân...

Đa số các đại biểu nhất trí cho rằng, để thực hiện Chiến lược hiệu quả cần tập trung vào các giải pháp tổng thể như: Tạo chuyển biến mạnh mẽ ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người dân trong BVMT; hoàn thiện pháp luật, thể chế quản lý, tăng cường năng lực thực thi pháp luật; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ về bảo vệ môi trường; phát triển ngành kinh tế môi trường để hỗ trợ các ngành kinh tế khác giải quyết các vấn đề môi trường, thúc đẩy tăng trưởng, tạo thu nhập và việc làm; tăng cường và đa dạng hóa đầu tư cho bảo vệ môi trường; thúc đẩy hội nhập và tăng cường hợp tác quốc tế về BVMT.
Nguồn monre

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2012

Tái chế chất thải rắn tại Việt Nam.

Ngày 11/12, tại Hà Nội, diễn ra hội thảo “Tái chế chất thải rắn tại Việt Nam: Cơ hội và thách thức” do Viện Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên & Môi trường và Quỹ Hanns Seidel Foundation tổ chức.

Ông Nguyễn Thành Lam, Cục Quản lý Chất thải & Cải thiện Môi trường, Bộ Tài nguyên & Môi trường, cho biết hiện nay đã có một số tỉnh, thành phố được đầu tư nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt để chế biến phân compost. Một số tỉnh khách cũng đã bắt đầu triển khai các dự án xây dựng các nhà máy chế biến phân từ rác thải rắn sinh hoạt.

“Các nhà máy này đã mang lại những hiệu quả tích cực trong việc tái chế và giảm thiểu chất thải rắn phải đem chôn lấp tại các tỉnh: giảm diện tích chôn lấp, nước rỉ rác gây ô nhiễm môi trường” ông Lam chia sẻ.

Tái chế rác.

Hoạt động tái sử dụng và tái chế chất thải mới được triển khai tại Việt Nam nhưng chúng ta đã có nhiều cố gắng nhằm tạo ra được những cơ sở pháp lý ban đầu cho việc hoạch định chính sách và thực thi chính sách. Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam đã xác định quản lý chất thải là mộ trong những vấn đề trọng tâm của công tác bảo vệ môi trường, trong đó các giải pháp 3R (giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế) như phân loại tại nguồn, tái chế chất thải đóng vai trò then chốt.

Mặc dù vậy, hiện nay chưa thống kê được lượng chất thải rắn tái chế tại Việt Nam; hoạt động tái chế tại Việt Nam hiện nay còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát, chưa được quản lý và kiểm soát chặt chẽ, có nguy cơ tiềm ẩn gây ô nhiễm môi trường. Các cơ sở tái chế đa số ở quy mô vừa và nhỏ, đa phần là các hộ sản xuất cá thể tại các làng nghề với công nghệ và dây chuyền sản xuất tái chế lạc hậu, trang thiết bị thô sơ, thủ công.

Trong khi đó các quy định về thông tin, giáo dục, nâng cao nhận thức về tái chế chất thải rắn chủ yếu vẫn nằm trong các nội dung về bảo vệ môi trường nói chung mà chưa có những chính sách chuyên biệt riêng hỗ trợ cho hoạt động tái chế.

Chính vì vậy chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 nhấn mạnh chiến lược đặt ra mục tiêu đến năm 2025, 100% các đô thị có công trình tái chế chất thải rắn thực hiện phân loại tại hộ gia đình; 100% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị, và 100% tại các làng nghề được thu gom và xử lý bảo đảm môi trường.

Ông Ludwig Grafvon Westarp, đại diện Quỹ Hanns Seidel Foundation có trụ ở tại Đức, cho biết Quỹ hợp tác lâu dài với Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên & Môi trường, là một trong những cơ chế cột trụ quan trọng tại Việt Nam góp phần vào việc xử lý chất thải, mang đến cơ chế tiết kiệm chi phí tránh được nguy cơ về môi trường.

Theo ông Lam, Bộ Tài nguyên & Môi trường đang xây dựng và triển khai thực hiện chương trình thúc đẩy phòng ngừa, giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải rắn; chương trình thúc đẩy phân loại rác tại nguồn.
Nguồn tinmoitruong

Trái đất thứ 2.

7 hành tinh này nằm trong dải Ngân Hà bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta và có những điều kiện phù hợp với sự sống tương tự Trái Đất.

Phát hiện này được công bố đúng vào dịp kỷ niệm 1 năm triển khai dự án đầy tham vọng mang tên Habitable Exoplanets Catalog (HEC) - lập danh sách tất cả các hành tinh có thể ở được ngoài Trái Đất.

Trưởng dự án, Abel Mendez - Hiệu trưởng Đại học Puerto Rico tại Phòng thí nghiệm Arecibo's Planetary Habitability - cho biết, ban đầu, nhóm ông chỉ hi vọng sẽ tìm ra được thêm 1-2 hành tinh có thể làm nơi cư trú cho con người trong tương lai. Việc tìm ra 5 hành tinh nữa quả thực vượt quá mong đợi của tất cả thành viên.
Hành tinh ngoài hệ mặt trời

"Đã có rất nhiều bài báo đưa tin về sự phát hiện ra những hành tinh có thể trở thành nơi sinh sống trong vũ trụ. Quá nhiều thông tin lại gây rối trí cho công chúng. Vì vậy, lập một cuốn danh bạ mà nhờ nó, mọi người có thể tra cứu những hành tinh thực sự có thể ở được là điều vô cùng cần thiết", giáo sư Mendez chia sẻ với Space.com.

Ông cho biết thêm, với việc các nhà khoa học cải tiến kỹ thuật tìm kiếm Trái Đất mới ngoài hệ mặt trời, tiến độ của dự án đã được đẩy nhanh đáng kể. Các thiết bị như dò tìm hành tinh thông qua vận tốc xuyên tâm có độ chính xác cao (Harps) và kính viễn vọng Kepler Space Telescope là hai trong số những trợ thủ đắc lực đã giúp các nhà khoa học tìm được Trái Đất mới hàng tháng.
Hoàng hôn

Dự án HEC được giáo sư Abel Mendez và nhóm của mình bắt đầu thực hiện từ tháng 12 năm ngoái. Mục đích là kiểm tra mức độ phù hợp của hành tinh ngoài hệ mặt trời cho cuộc sống con người và tìm ra cách sắp xếp, phân loại chúng sao cho có thể giới thiệu tới đông đảo công chúng.

Trên thực tế, đã tìm ra được gần 80 hành tinh có kích cỡ tương đương Trái Đất nhưng chỉ một số ít có khoảng cách phù hợp để trữ được nước trên bề mặt.

Tính tới thời điểm này, dự án HEC đã cho phép liệt kê 7 hành tinh có thể trở thành Trái đất thứ hai trong tương lai, bao gồm Gliese 581g, cộng thêm 27 hành tinh khác phát hiện nhờ đài thiên văn vũ trụ của NASA đang chờ xác nhận cuối cùng.

Thông tin ban đầu cho thấy, 7 hành tinh này được gọi là những Siêu Trái Đất. Chúng có kích cỡ lớn hơn Trái Đất khá nhiều. Tuy nhiên, nhóm các nhà khoa học đang theo đuổi dự án HEC nhấn mạnh, cần tiến hành thêm nhiều quan sát thiên văn học nữa để khẳng định môi trường trên các hành tinh này thực sự phù hợp với con người. Hiện tại, một bản sảo đích thực của Trái Đất vẫn chưa được tìm ra.
Nguồn tinmoitruong

Hội thảo ứng phó biến đổi khí hậu.

Ngày 11/12, tại Hà Nội, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam tổ chức Hội thảo “Biến đổi khí hậu toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam” với sự tham gia của đại diện các hội, ban, ngành Trung ương.
Hạn hán

Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam cho rằng, giải pháp đồng bộ để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu từ nay đến 2020 của Việt Nam, đó là chính sách đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, an sinh xã hội, sức khỏe cộng đồng, nâng cao đời sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Đây là hội thảo lần thứ ba về biến đổi khí hậu với nhiều vấn đề liên quan được nghiên cứu, như chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên môi trường; giải pháp chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường; cộng đồng khoa học và công nghệ ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam; nâng cao khả năng thích ứng và giảm thiểu rủi ro thiên tai trong phát triển sinh kế và quản lý tài nguyên.

Dưới tác động của biến đổi khí hậu, tần suất và cường độ thiên tai ngày càng gia tăng gây nhiều tổn thất lớn về người, tài sản, cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hóa, xã hội, tác động xấu đến môi trường. Do đó, nền kinh tế cacbon thấp, tăng trưởng xanh cũng trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển bền vững; giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành tiêu chí bắt buộc trong phát triển kinh tế, xã hội.

Cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu của các bên liên quan, phát triển tiềm lực khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực; tận dụng các cơ hội từ biến đổi khí hậu để phát triển kinh tế, xã hội; phát triển nhân rộng mẫu hình tiêu thụ thân thiện với môi trường. Qua đó, góp phần tích cực với cộng đồng quốc tế, tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế của Việt Nam để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Theo phó giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Danh Sơn, Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, cộng đồng khoa học công nghệ Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam như đóng góp thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu trên các phương diện, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách phát triển đất nước theo hướng nền kinh tế cácbon thấp, tăng trưởng xanh.

Hậu quả tác động của biến đổi khí hậu đã được Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPPC) khẳng định thông qua các dạng thiên tai như sóng, nhiệt, nóng, lũ lụt, hạn hán gây ra chết chóc và bệnh tật. Đặc biệt là các căn bệnh gia tăng dưới tác động của nhiệt như sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não (truyền qua muỗi), các bệnh đường ruột (qua môi trường), các bệnh suy dinh dưỡng, bệnh phổi. Những bệnh này ảnh hưởng lớn đến các vùng kinh tế kém phát triển, đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao.
Nguồn TTXVN

Thằn lằn mang tên Obama.

Cộng đồng khoa học tìm ra một cách đặc biệt để tôn vinh Tổng thống Mỹ Barack Obama khi họ dùng tên ông để gọi một loài thằn lằn đã biến mất.

Thằn lằn Obamadon gracilis

Obamadon gracilis là tên của một loài thằn lằn cỡ nhỏ từng tồn tại cách đây khoảng 65 triệu năm. Chúng ăn côn trùng và có chiều dài thân khoảng 30 cm, Boston Globe đưa tin. Các nhà khoa học của Đại học Yale và Đại học Harvard đã nghiên cứu những mẫu hóa thạch của chúng để tìm hiểu nguyên nhân khiến chúng tuyệt chủng cùng thời với khủng long. Sau đó họ quyết định gọi chúng là Obamadon gracilis.

Trước đây giới chuyên môn tin rằng vụ va chạm giữa một thiên thạch với địa cầu khiến khủng long tuyệt chủng, song các loài thằn lằn cỡ nhỏ vẫn sống sót. Nhưng nhóm nghiên cứu của Đại học Yale và Đại học Harvard khẳng định rằng tất cả những loài có trọng lượng trên 450 g, bao gồm thằn lằn, đều diệt vong.

Nicholas Longrich, một nhà cổ sinh vật học của Đại học Yale, khẳng định rằng những loài thằn lằn ngày nay bắt đầu xuất hiện sau khi khủng long tuyệt chủng.

Đây là lần thứ ba người ta dùng tên ông Obama để gọi các loài. Trước đó tên của ông được đặt cho một loài cá (Etheostoma obama) và một loài địa y (Caloplaca obamae).
Nguồn vnexpress

Vẻ đẹp hoang sơ của thảo nguyên nước Mỹ

Ngắm nhìn thảo nguyên mênh mông với những đàn gia súc thong dong gặm cỏ trên nền trời xanh thẳm, khiến ta không thể không rung động.



Bức ảnh “Bò rừng bi-zon gặm cỏ” được chụp bởi nhiếp ảnh gia Thomas J. Abercrombie. Trong bức ảnh những chú bò thong dong gặm cỏ dưới bầu trời trong xanh và bao la của thảo nguyên miền Bắc Dakota. Những đàn bò này là nguồn sống của các bộ lạc thổ dân da đổ Bắc Mỹ tập trung sinh sống ở vùng Great Plains.


Khu bảo tồn động vật hoang dã quốc gia J Clark Salyer được chụp bởi nhiếp ảnh gia James P. Blair từ trên không, là một trong những khu vực ưa thích nhất của các loài chim di trú có thể bơi dưới nước.


Thảo nguyên Wyoming được chụp bởi nhiếp ảnh gia James P. Blair. Trước đây, Wyoming từng là một mỏ than lộ thiên khổng lồ. Sau khi khai thác, theo luật, các công ty khoáng sản phải bằng mọi cách khôi phục lại hiện trạng ban đầu của thảo nguyên này. Ngày nay, cỏ đã mọc lại ở đây nhưng để khôi phục lại cuộc sống hoang dã ở đây như trước có lẽ phải mất một thời gian khá dài nữa.


“Đàn gia súc gặp cỏ trên thảo nguyên mùa đông” được chụp bởi nhiếp ảnh gia Annie Griffiths Belt. Dân du mục đang lùa đàn gia súc băng qua thảo nguyên Montana trên chuyến hành trình tới các cánh đồng cỏ mùa đông. Phần lớn thảo nguyên của Bắc Mỹ là các bãi chăn thả gia súc.


“Hàng rào phủ tuyết trắng trên thảo nguyên” được chụp bởi nhiếp ảnh gia Tom Murphy. Đây là hàng rào đường sắt cũ từng chạy qua cánh đồng cỏ này. Ngày nay, phần lớn các cánh đồng cỏ ở Mỹ đã được chuyển đổi mục đích sử dụng sang nông nghiệp.


“Những đám mây bay trên thảo nguyên Wyoming”, được chụp bởi nhiếp ảnh gia John Eastcott & YVA Momatiuk. Bầu trời xanh thẳm điểm xuyến những đám mây trắng muốt bồng bềnh trôi, bên dưới là thảo nguyên Wyoming bao la.


“Cánh đồng lùa mì màu hổ phách” được chụp bởi nhiếp ảnh gia Richard Olsenius. Cánh đồng lúa mỳ thuộc thảo nguyên Montana khẽ đu đưa theo chiều gió, xa xa thấp thoáng dãy núi Rocky kỳ vĩ.


"Cánh đồng hoa Coreopsis" được chụp bởi nhiếp ảnh gia Joel Sartore. Cây Coreopsis nở hoa rực rỡ trên cánh đồng cỏ ven biển Texas. Phần lớn các cánh đồng cỏ ở Mỹ đang được chuyển đổi sang mục đích nông nghiệp. Chỉ một vài cánh đồng cỏ được bảo tồn ở trạng thái hoang dã.


Đàn bò gặm cỏ trên thảo nguyên ở Nebraska được chụp bởi nhiếp ảnh gia Joel Sartore. Bức ảnh miêu tả đàn bò đang say sưa gặm cỏ tại khu bảo tồn động vật hoang dã quốc gia Niobrara của Nebraska, bang Wyoming. Đây là khu vực độc đáo với rừng, đồng cỏ và sa mạc được thu nhỏ và bao trọn trong một khu vực có diện tích hạn chế.


“Cánh đồng cỏ bụi” là bức ảnh được chụp bởi nhiếp ảnh gia Raymond K. Gehman. Cánh đồng cỏ này là một phần của công viên quốc gia Nam Dakota. Ở đây có tới 56 loài cỏ khác nhau đã được phát hiện.


“Cánh đồng hoa lan trắng muốt” được chụp bới nhiếp ảnh gia Raymond K. Gehman. Cánh đồng hoa nằm ở Công viên quốc gia Brazos Bend của Texas. Do hậu quả của hạn hán, lũ lụt, những vụ cháy và việc chăn thả gia súc mà cánh đồng trông có vẻ xác xơ.
Nguồn vea

Giải quyết tình trạng nhà máy ximăng gây ô nhiễm

Dù mới đi vào hoạt động được nửa năm nay, nhà máy ximăng Đại Việt-Dung Quất thuộc Công ty cổ phần ximăng miền Trung tại xã Bình Đông, huyện Bình Sơn, Khu kinh tế Dung Quất đã liên tục gây tiếng ồn, xả bụi ximăng dày đặc làm ảnh hưởng lớn đến cuộc sống, sinh hoạt của người dân, khiến nhiều hộ dân sống xung quanh nhà máy bức xúc.


Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi vừa có công văn yêu cầu Ủy ban Nhân dân huyện Bình Sơn chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan khẩn trương tổ chức đối thoại để giải quyết những thắc mắc, kiến nghị của người dân liên quan đến tình trạng ô nhiễm môi trường tại khu vực Nhà máy nghiền ximăng Đại Việt-Dung Quất.

​Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đồng thời chỉ đạo các đơn vị chức năng thuộc huyện có biện pháp ổn định tình hình, không để diễn biến phức tạp làm mất an ninh trật tự trên địa bàn.

Cụ thể, Ủy ban Nhân dân tỉnh yêu cầu các sở ngành, đơn vị liên quan và chủ đầu tư có trách nhiệm cử cán bộ giải thích cho người dân về các vấn đề chuyên môn liên quan đến môi trường, cũng như các vấn đề liên quan đến quá trình vận hành chạy thử của nhà máy trong thời gian qua và các giải pháp trong thời gian tới.;

Thêm vào đó, Ủy ban tỉnh Quáng Ngãi yêu cầu Ủy ban Nhân dân huyện Bình Sơn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban quản lý khu kinh tế Dung Quất, Công ty cổ phần ximăng miền Trung khẩn trương nghiêm túc thực hiện, báo cáo kết quả cho Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi trước ngày 25 tháng này.

Trước tình trạng ô nhiễm môi trường, mới đây, hàng chục hộ dân ở thôn Sơn Trà, xã Bình Đông, huyện Bình Sơn đã kéo đến vây quanh nhà máy ximăng Đại Việt-Dung Quất ngăn cản hoạt động của nhà máy.


Nguồn TTXVN